Phương pháp nuôi trồng

Trồng hến biển, giải pháp cho người nuôi tôm thất bại

Nuôi tôm, nếu thất bại, người dân bị trắng tay. Còn đất nuôi tôm bị nhiễm mặn, xì phèn. Lối thoát hiện nay: Trồng hến biển, một loại cỏ có giá trị kinh tế… TS. Dương Văn Ni, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm Đa dạng Sinh học Hòa An (Đại học Cần Thơ) vừa gửi cho VietNamNet bài viết về giải pháp trồng cỏ hến biển, lối thoát dành cho người nuôi tôm bị thất bại, nhằm khai thác và giải quyết môi trường.

Kinh nghiệm của nông dân là giữ Hến biển khoảng 30% diện tích nuôi sẽ làm tôm lớn nhanh và ít bị rủi ro. Hơn thế nữa, đây còn là một nguyên liệu dành cho ngành thủ công mỹ nghệ, tương tự lục bình.

Việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản chủ yếu là nuôi tôm sú, ở các vùng duyên hải Đồng bằng sông Cửu Long, đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn rất đáng kể, cả tích cực lẫn tiêu cực! Ngày nay, khi đi qua các vùng nầy, dễ nhận ra đó là vùng nuôi tôm sú với vô số ao và rào lưới bọc xung quanh.

Cần cải tạo lại các ao nuôi tôm (*)

Đêm về, người lạ có thể nhầm lẫn một cánh đồng nuôi tôm với một thành phố nho nhỏ vì cơ man đèn và đèn, sáng choang cả một vùng không gian tĩnh mịch! Và ai đi xa về cũng không khỏi ngạc nhiên thấy số nhà tường, nhà gạch mọc lên san sát. Biến hình ảnh một nông thôn nghèo nàn với nhà lá, đèn dầu chỉ còn trong trí tưởng tượng.

Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi đó, đồng ruộng trở nên trơ trọi hơn, chỉ còn đất và nước.

Những căn nhà xây khang trang thiếu hẳn bóng cây xanh, và cả làng quê nhìn từ trên cao giống như một đống gạch với xung quanh loang lỗ ao hồ!

Bức xúc hơn là trong đó có khoảng 30% hộ rất nghèo, thu nhập của họ chỉ từ 150.000 – 200.000VNĐ/người/tháng, thấp hơn những hộ nghèo của vùng thâm canh nông nghiệp. Điều đáng nói là chính họ, những người mà vài năm trước đây từng là triệu phú, với thu nhập hàng trăm triệu mỗi năm. Cái gì đã đưa họ lên cao và dìm họ xuống vực? – Con tôm!

Báo chí và dư luận đã bàn nhiều về nguyên nhân và các khó khăn của những hộ nuôi tôm thất bại như gia sản khánh kiệt, nợ nần chồng chất, đất đai bỏ hoang… Điều chúng ta quan tâm là cách nào có thể giúp cho họ vượt qua tình huống khó khăn và khôi phục lại môi trường?

Nhờ Hến biển, màu xanh tự nhiên sẽ dần dà khôi phục lại trên vùng đất giàu tiềm năng nhưng đầy rủi ro nầy.

Vấn đề thách thức là môi trường đã bị xáo trộn nặng nề. Nhiều ao nuôi, khi xây dựng đã đào hết lớp đất mặt, do đó lớp đất nhiễm phèn đã lộ thiên và chỉ để đất khô một tuần lễ là bị phèn xì lên. Hơn nữa, do quá trình nuôi tôm trước đây cần giữ nước mặn sâu và kéo dài nên mặn đã ngấm vào trong đất. Vì vậy, quay trở lại trồng lúa xem như khó khả thi.

Các nhà khoa học đã tốn nhiều công sức để lai tạo và tuyển chọn các gống lúa chịu mặn, nhưng đến nay vẫn chưa tìm được giống có khả năng sống sót ở nồng độ mặn 10 phần ngàn (10g/lít). Giải pháp mà nông dân áp dụng phổ biến hiện nay là nuôi ghép tôm sú với cua, cá chẻm, cá kèo…

Nhưng các phương án nầy chỉ phù hợp với những người còn vốn sản xuất hoặc còn có thể vay ngân hàng. Khó khăn đặc biệt là đối với các hộ không còn đất và vốn sản xuất và cũng không có khả năng vay ngân hàng vì nợ trước đây chưa trả được!

Trồng hến biển, giải pháp cho người nuôi tôm thất bại

Từ năm 2003, chúng tôi vận dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái, tức là chọn lựa cây trồng vật nuôi có sẵn trong hệ sinh thái đó và tìm cách khai thác chúng đồng thời nhờ chúng giải quyết cho một số vấn đề phát sinh trong quá trình sản xuất.

Cỏ năng tượng (hến biển): Cỏ Năng Tượng có tên khoa học là Scirpus littoralis Schrab.. (hay dân gian còn gọi là Hến biển theo sách phân loại của Phạm Hòang Hộ (Quyển III, tập 2, trang 633, NXB Mekong, 1993). Đây là cây họ Lác (Cyperaceae) mọc tự nhiên trong các đầm lầy vùng ven biển.Chu kỳ phát triển của loài cỏ này là mọc vào đầu mùa mưa, ra hoa khoảng tháng 11-12 và rụi dần vào khoảng tháng 3-4. Có khả năng chịu được độ mặn lên đến 20 phần ngàn và ngập sâu đến 0.5m. Trong hệ sinh thái ao nuôi tôm, Hến biển giúp ổn định nhiệt độ nước và làm giảm các chất ô nhiễm do thức ăn tôm dư thừa gây ra, do đó làm tăng nồng độ khí ôxy.

Quan sát bằng mắt thường thấy tôm sú và cua ăn các ngó non và sử dụng môi trường của hến biển để trốn kẻ thù. Kinh nghiệm của nông dân là nên giữ hến biển khoảng 30% diện tích nuôi sẽ làm tôm lớn nhanh và ít bị rủi ro.

Khảo sát từ năm 2003 cho thấy là các ao nuôi có hến biển chịu rủi ro ít hơn các ao nuôi khác đến 22.3%, đặc biệt là trong đợt nắng nóng và tôm chết hàng loạt năm 2004, sự chênh lệch nầy là 33.5%.

Hiện nay, bà con nông dân của huyện Đông Hải (Bạc Liêu) áp dụng rất phổ biến mô hình nầy.

Trên cơ sở nầy, chúng tôi đã chọn giữ lại cây Cỏ Năng Tượng hay còn goị là hến biển trong ao nuôi tôm.

Quan sát bằng mắt thường thấy tôm sú và cua ăn các ngó non và sử dụng môi trường của hến biển để trốn kẻ thù.

Kinh nghiệm của nông dân là nên giữ hến biển khoảng 30% diện tích nuôi sẽ làm tôm lớn nhanh và ít bị rủi ro.

Khảo sát từ năm 2003 cho thấy là các ao nuôi có hến biển chịu rủi ro ít hơn các ao nuôi khác đến 22.3%, đặc biệt là trong đợt nắng nóng và tôm chết hàng loạt năm 2004, sự chênh lệch nầy là 33.5%.

Hiện nay, bà con nông dân của huyện Đông Hải (Bạc Liêu) áp dụng rất phổ biến mô hình nầy.

Để tăng thu nhập cho nông dân, từ năm 1994, mẫu nguyên liệu hến biển đã được chúng tôi gửi cho một số nơi chế biến thử hàng thủ công mỹ nghệ.

Kết quả là nguyên liệu nầy có thể sản xuất các mặt hàng đan, tương tự như nguyên liệu lục bình, nhưng dễ làm hơn do sợi dài. Sợi hến biến có thể dài hơn 1m.

Nguyên liệu và sản phẩm làm từ lác Hến biển (Cỏ Năng Tượng). Sơi lác Hến biển có thể dài hơn 1m, người dân đỡ tốn công hơn trong việc đan lát.

Sản phẩm nầy cũng đã được theo dõi trong điều kiện nhiệt độ bình thường trong phòng có và không có điều hòa từ tháng 3 năm 2005 đến nay. Kết qủa là có điều hòa nhiệt độ thì mầu sắc không đổi và ở nhiệt độ thường màu có thay đổi nhưng không nhiều.

Mặc dù các sản phẩm làm từ lục bình đang được thị trường ưa chuộng, nhưng tiềm năng khai thác nguồn nguyên liệu nầy đang gặp phải một số khó khăn như: Nguồn nguyên liệu lục bình hiện nay chủ yếu là từ thu hoạch tự nhiên, một số nơi bắt đầu trồng như Tân Hồng và Tam Nông (Đồng Tháp), nhưng do sản lượng thấp (0.5Kg/m2 nguyên liệu khô) nên cần diện tích lớn. Vả lại, trồng lục bình không kết hợp được với sản xuất loại nào khác và lục bình còn là ký chủ của các loại nấm hại trên lúa và hoa màu, do đó rất khó mở rộng diện tích trồng.

Trong khi đó, hến biển, với sản lượng nguyên liệu khô từ 1,5-2Kg/m2 và có thể kết hợp với ao nuôi tôm, nên tiềm năng cung cấp nguyên liệu cho ngành thủ công mỹ nghệ rất lớn.

Diện tích có thể sản xuất là vùng duyên hải, từ Cần Giờ (TP. HCM) cho đến Hà Tiên (Kiên Giang). Ngoài ra, do tác động tích cực của hến biển đến sinh thái ao tôm nên nông dân sẽ luôn giữ hến biển. Và nếu có đầu ra ổn định thì nông dân sẽ đầu tư chăm sóc kỹ hơn và năng suất còn có khả năng cao hơn.

Do không phải tốn chi phí gì cả nên những người không còn vốn sản xuất (nhưng còn đất) có thể áp dụng mô hình nầy. Nếu chính quyền địa phương có cơ chế ưu đãi và tổ chức tốt, thì các Hợp Tác Xã sẽ hình thành và các doanh nghiệp sẽ không ngần ngại tham gia.

Điều nầy sẽ kích thích tạo ra thị trường sử dụng nguyên liệu Hến biển. Trong đó nhóm nông dân có đất sẽ sản xuất nguyên liệu kết hợp với nuôi tôm. Nhóm không còn đất sẽ tham gia thu hoạch, phơi khô, và gia công đan lát. Và quan trọng hơn là màu xanh tự nhiên sẽ dần dà khôi phục lại trên vùng đất giàu tiềm năng nhưng đầy rủi ro nầy.

(*) Tựa và các tiêu đề nhỏ trong bài do Tòa soạn đặt.

TS. Dương Văn Ni

Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Đa dạng Sinh học Hòa An – ĐH Cần Thơ

Bình luận tại đây