Phương pháp nuôi trồng

Về công trình KHCN của ngành thủy sản tham gia Giải thưởng Sáng tạo KHCN Việt Nam năm 2005

Từ hơn nửa thế kỷ trước đây, người nuôi cá ở nước ta đã biết đến một loài cá mới được di nhập từ châu Phi – đó là cá rô phi đen, có tên khoa học là Oreochromis mossambicus. Lúc ban đầu nhiều người cũng quan tâm đến loài cá rô phi đen này và đã đưa nó vào nuôi ở nhiều địa phương. Tuy vậy, do loài này đẻ quá dày, lại chậm lớn, kích thước cá thể bị giảm dần nên bà con nuôi cá đã dần lãng quên nó.

Năm 1973, cá rô phi vằn Oreochromis niloticus được nhập vào nước ta. So với O.mossambicus, loài này có nhiều ưu điểm hơn: lớn nhanh hơn, to con hơn nên người nuôi cũng dễ chấp nhận hơn. Chúng lại sống được ở cả ao hồ nước ngọt lẫn vùng nước lợ cửa sông. Nhiều nước trên thế giới đã chọn loài này là loài cá nuôi chủ lực, mang lại hiệu quả kinh tế khá rõ rệt, nhất là ở các nước châu á – khu vực đông dân và có mức sống thấp.

ở nước ta, sau một thời gian nuôi loài này đã nảy sinh vấn đề lớn: chất lượng giống giảm sút nhanh do sự tạp giao giữa chúng với loài cá rô phi đen đã phát tán trước đó trong các vùng nước. Ðó cũng là hệ quả tất yếu của việc thiếu quan tâm đến công tác giữ giống gốc, giống thuần chủng các loài cá nuôi. Người tiêu dùng không còn mặn mà với loài này nữa và cuối cùng là phong trào nuôi cá rô phi vằn cũng tắt lịm.

Phải hơn 20 năm sau ngày những con rô phi vằn đầu tiên có mặt ở nước ta, từ năm 1994 đến năm 1997, các nhà khoa học ở Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I mới nhập về 3 dòng cá rô phi vằn từ Thái Lan và Philippin trong đó dòng GIFT (Genetic Improvement of Farmed Tilapia) có tốc độ tăng trưởng cao nhất khi nuôi thử nghiệm ở nước ta.

Một bài học lớn đã rút ra qua những lần nhập nội cá rô phi trước đây là, nếu muốn nuôi có hiệu quả thì, phải giữ được chất lượng dòng thuần, đồng thời nghiên cứu tìm biện pháp nâng cao chất lượng di truyền của chúng và khả năng thích ứng với điều kiện nước ta thông qua quá trình chọn giống. Việc nâng cao chất lượng di truyền trên cơ sở lựa chọn tính trạng thích hợp đòi hỏi phải có một chương trình chọn giống, trong đó theo dõi chặt chẽ mối quan hệ của các đời trong phả hệ để tăng mức độ chính xác trong chọn lọc và giảm tỷ lệ giao phối cận huyết có thể xảy ra. Có như vậy mới mong tạo ra được thế hệ con có giá trị di truyền trung bình cao hơn thế hệ bố mẹ

Các tài liệu khoa học cho biết, chọn giống là phương pháp thu được nhiều kết quả nhất để nâng cao chất lượng di truyền của vật nuôi, được tiến hành thành công từ đầu thế kỷ 20 với gia súc, gia cầm nuôi và đã góp phần làm tăng đáng kể năng suất, sản lượng và chất lượng vật nuôi. Từ những thành công ấy, đã áp dụng chọn giống đối với thủy sản nuôi trước hết là cá chép ở nhiều nước châu âu và Ixraen, tiếp đến cá hồi ở NaUy, rồi cá rô phi dòng GIFT ở Philippin.

Năm 1997, đã có 106 gia đình cá rô phi chọn giống dòng GIFT thế hệ chọn giống thứ 5 được nhập từ Philippin về Viện nghiên cứu NTTS I để nuôi thành cá bố mẹ và đã sản xuất ra thế hệ con làm vật liệu chọn giống. Ðây chính là đàn cá gốc của vật liệu chọn giống ban đầu, nằm trong chương trình chọn giống cá rô phi O. niloticus dòng GIFT nhằm nâng cao sức sinh trưởng và khả năng chịu lạnh công trình KHCN của ngành thủy sản thuộc lĩnh vực Sinh học phục vụ sản xuất và đời sống, do TS.Nguyễn Công Dân làm chủ nhiệm đề tài, được thực hiện từ năm 1998 và đã được chọn đăng ký tham gia Giải thưởng Sáng tạo KHCN Việt Nam năm 2005 (Giải thưởng KHCN VIFOTEC).

Nói đến chọn giống thủy sản ở nước ta, không thể không nhắc đến những công trình như chọn giống cá chép Cyprinus carpio của PGS.TSKH Trần Mai Thiên, chọn giống cá mè trắng Hypophthalmicthys harmandi của TS. Nguyễn Quốc ân, được thực hiện giữa những năm 1980 và đều áp dụng phương pháp chọn lọc hàng loạt (mass selection). Cho đến nay, chưa thấy công bố công trình nghiên cứu nào về chọn giống cá theo phương pháp chọn lọc gia đình (family selection) và chọn lọc kết hợp (combine selection). Vì vậy, công trình chọn giống cá rô phi O.niloticus dòng GIFT theo phương pháp chọn lọc gia đình và chọn lọc kết hợp là công trình đầu tiên được thực hiện ở nước ta từ năm 1998 đến năm 2000, và sẽ kéo dài đến năm 2007 với sự hỗ trợ của một dự án do NORAD (NaUy).

TS. Nguyễn Công Dân, chủ nhiệm đề tài, cho biết có 3 điểm mới trong công trình nghiên cứu này, đó là: Tiến hành chọn lọc gia đình và chọn lọc kết hợp với 2 tính trạng tăng trưởng và chịu lạnh của cá rô phi để phát triển nuôi chúng trong điều kiện khí hậu lạnh ở các tỉnh phía bắc nước ta; Sử dụng dấu điện tử (microchip PIT tags) và phần mềm đọc, ghi dấu tự động trên máy tính nên đảm bảo chính xác cao độ; Phân tích số liệu và theo dõi phả hệ bằng phần mềm SAS (Statistically Analysis System) đã làm cho kết quả nghiên cứu có độ chính xác cao hơn và giảm được tỷ lệ cận huyết.

Trong quá trình triển khai nghiên cứu, nhóm tác giả công trình đã có nhiều sáng tạo để sản xuất thành công các gia đình chọn giống với số lượng dao động từ 83 gia đình (năm 2001) đến 106 gia đinh (năm 1999), đảm bảo thực hiện được chương trình chọn giống, vượt qua những khó khăn trong quá trình chọn lọc cá bố mẹ, ghép các gia đình và thu cá bột. Việc cho cá đẻ đồng loạt để giảm sự khác biệt về tuổi ở thế hệ con của các gia đình cũng đã làm cho khâu đánh giá hiệu quả chọn giống được chính xác hơn. Các cán bộ nghiên cứu đề tài đã thiết kế, lắp đặt hệ thống điều nhiệt tự động có độ chính xác 0,10C dùng trong các thí nghiệm theo dõi khả năng chịu lạnh của cá. Kết quả các thí nghiệm này cho thấy khả năng chịu lạnh của cá chọn giống tăng dần: thí nghiệm năm 1999 ở 110C có 85% số cá thí nghiệm bị chết, đến năm 2001, ngưỡng nhiệt độ này là 10,50C. Bên cạnh đó, tỷ lệ sống của cá chọn giống cũng tăng lên sau khi được theo dõi qua đánh dấu điện tử và bảo toàn dấu.

Ðánh giá tính thực tiễn của đề tài nghiên cứu, các chuyên gia trong lĩnh vực này đều cho rằng kết quả nghiên cứu thu được từ chương trình chọn giống cá rô phi có thể áp dụng cho việc chọn giống các loài thủy sản nuôi khác. Trong những năm qua, từ Viện nghiên cứu NTTS I, nhiều thế hệ cá rô phi chọn giống đã được chuyển giao cho sản xuất giống để phát triển nuôi cá rô phi ở nhiều địa phương. Từ 2002-2004, đã có hơn 3 triệu cá rô phi giống thế hệ chọn giống thứ 4,5 được đến hơn 60 địa phương trong cả nước để hình thành đàn cá bố mẹ phục vụ sản xuất giống cung cấp cho người nuôi cá rô phi.

Về hiệu quả kinh tế xã hội do công trình này đưa lại, TS. Lê Thanh Lựu, Viện trưởng Viện nghiên cứu NTTS I đánh giá: Viện đã tạo được đàn cá có tốc độ tăng trưởng cao hơn 48% và có khả năng chịu lạnh tốt hơn sau 2 thế hệ chọn giống theo tính trạng này. Trong 2 năm tới, chương trình chọn giống sẽ tập trung đánh giá hiệu quả chọn giống theo tính trạng chịu lạnh của đàn cá giống được tạo ra.

Nhìn vào kết qủa NTTS ở nước ta trong vài năm gần đây, có thể thấy sản lượng cá nuôi mỗi năm một tăng trong đó có cá rô phi vằn dòng GIFT. Ðã có những vùng nuôi cá rô phi tập trung với diện tích và sản lượng khá lớn, cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu. Tuy vậy, kết quả chưa được như mong đợi. Trong kế hoạch phát triển năm 2006, ngành thủy sản đã xác định đưa nhanh một số số giống loài có khả năng xuất khẩu lên sản xuất hàng hoá có sản lượng lớn và cá rô phi được coi là một trong các loài đó. Nhìn xa hơn, trong quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, cá rô phi cũng được xác định là đối tượng tập trung phát triển nuôi ở nhiều vùng kinh tế sinh thái trong cả nước, như vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Ðông Nam Bộ, vùng miền núi trung du phía bắc và Tây Nguyên. Hy vọng từ những kết quả cụ thể của công trình này, cũng như những đề tài khác trong lĩnh vực sản xuất giống thủy sản, sẽ đóng góp được nhiều hơn cho sự phát triển bền vững nuôi cá rô phi nói riêng và nuôi trồng thủy sản nói chung, nhằm thúc đẩy tăng trưởng cả về sản lượng và giá trị sản phẩm thủy sản nuôi ở nước ta ./.

Đỗ Đức Hạnh (Tạp chí Thủy sản, 3/2006)

Bình luận tại đây