Các loài thủy hải sản

Thủy sản từ Việt Nam: Cá ngừ và cá nổi lớn (phần 1)

Nhóm sản phẩm cá ngừ chiếm 9% tổng kim ngạch XK thủy sản toàn cầu năm 2008 (FAO), đứng hàng thứ tư trong thương mại thủy sản thế giới.

Ở Việt Nam, cá ngừ chiếm từ 10-20% sản lượng khai thác cá biển và là một trong các nhóm sản phẩm XK chủ lực sau tôm và cá nước ngọt. Những năm gần đây, khối lượng và giá trị XK cá ngừ của Việt Nam liên tục tăng, năm 2010 đạt 84.000 tấn, tương ứng với trên 293 triệu USD, tăng lần lượt 49% và 60% so với năm 2009.

Nhóm sản phẩm cá ngừ chiếm 9% tổng kim ngạch XK thủy sản toàn cầu năm 2008 (FAO), đứng hàng thứ tư trong thương mại thủy sản thế giới.

Ở Việt Nam, cá ngừ chiếm từ 10-20% sản lượng khai thác cá biển và là một trong các nhóm sản phẩm XK chủ lực sau tôm và cá nước ngọt. Những năm gần đây, khối lượng và giá trị XK cá ngừ của Việt Nam liên tục tăng, năm 2010 đạt 84.000 tấn, tương ứng với trên 293 triệu USD, tăng lần lượt 49% và 60% so với năm 2009.

Sản phẩm cá ngừ XK của Việt Nam chủ yếu dưới dạng tươi phẩm cấp surimi, tươi ướp đá, đông lạnh, đóng hộp, … Hiện nay, một số DN chế biến như Công ty TNHH Hải Nam (Bình Thuận) đã xây dựng nhà máy chế biến áp dụng công nghệ đông sâu để nâng cao hơn nữa giá trị XK cá ngừ Việt Nam.

Các loài cá ngừ và cá nổi lớn thường gặp ở Việt Nam

Cá ngừ là tên gọi chung của một số loài cá nổi thuộc ngành động vật có xương sống Verterbrata, lớp cá Pisces, bộ cá vược Perciformes. Trong vùng biển Việt Nam, cá ngừ phân bố chủ yếu ở những vùng nước trong, nồng độ muối cao 32,6-34‰, nhiệt độ thích hợp từ 21-310C.

Cá ngừ xuất hiện ở các vĩ độ cao, ngang với Quảng Ngãi- Bình Định vào đầu vụ Bắc (tháng 11,12), sau đó chuyển dịch về phía Nam và Đông Nam, xuống đến tận 6,0-6,5 độ N. Theo tài liệu đã công bố, có 8 loài cá ngừ thuộc 5 giống phân bố trong vùng biển Việt Nam, bao gồm:

– Cá ngừ vây vàng (Yellowfin tuna – Thunnus albacares [Bonnaterre, 1788]): Kích thước khai thác lớn nhất: dài 2,3m, nặng 200 kg. Là loài cá ngừ lớn, sống và di cư ở vùng nước xa bờ và ở các vùng nước đại dương. Ở Việt Nam, cá ngừ vây vàng chỉ phân bố ở biển miền Trung và đông Nam Bộ, tập trung nhiều ở biển khơi vùng biển Khánh Hoà. Ngư cụ khai thác chủ yếu là câu vàng, lưới rê, đăng.

– Cá ngừ mắt to (Bigeye tuna – Thunnus obesus [Lowe, 1839]): Kích thước khai thác lớn nhất: dài 1, 4m, nặng 60kg. Ngư trường chính là vùng biển miền Trung. Thường đi thành đàn cùng với đàn cá ngừ vây vàng. Chiều dài phổ biến từ 80 đến 167 cm. Ngư cụ khai thác chủ yếu là câu vàng.

– Cá ngừ bò (Longtail tuna – Thunnus tonggol [Bleeker, 1851]): Kích thước trung bình: dài 26-68 cm, nặng 400-3600g. Ngư trường là vịnh Bắc Bộ, biển miền Trung, đông Nam Bộ, tập trung nhiều ở biển miền Trung. Là loài cá ngừ nhỏ sống ven bờ, đi thành đàn lớn. Ngư cụ khai thác chủ yếu là lưới vây và lưới rê.

– Cá ngừ sọc dưa (Striped tuna – Sarda orientalis [Temminek & Schlegel, 1844]): Kích thước trung bình: dài 41-71cm, nặng 120-2900g. Loài này thường phân bố ở biển miền Trung, ít gặp ở biển vịnh Bắc Bộ và miền Nam. Ngư cụ khai thác chủ yếu là lưới rê, lưới vây.

– Cá ngừ vằn (Skipjack tuna – Katsuwonus pelamis [Linnaeus, 1758]): Kích thước trung bình: dài 41-65cm, nặng 2400-2900g. Phân bố rộng khắp biển Việt Nam. Tuy nhiên, vùng tập trung nhiều, mật độ cao thường thấy ở biển miền Trung. Là loài cá ngừ nhỏ đi thành đàn lớn, đôi khi vào gần bờ kiếm ăn đi lẫn với đàn cá ngừ chù và ngừ ồ. Cá ngừ vằn di cư xa, không thích ánh sáng, thích tập trung quanh các vật trôi nổi trên biển và chà rạo. Chúng cũng thường đi cùng với các đàn cá heo. Ngư cụ khai thác chủ yếu là lưới rê và lưới vây.

– Cá ngừ chấm (Eastern little tuna – Euthynnus affinis [Canner, 1850]): Kích thước trung bình: dài 20-64cm, nặng 400-2200g. Có ở vịnh Bắc Bộ, biển miền Trung và Nam Bộ. Là loài cá ngừ nhỏ sống gần bờ đi theo đàn lẫn với đàn cá ngừ chù, ngừ ồ. Ngư cụ khai thác chủ yếu là lưới vây, lưới rê, đăng.

– Cá ngừ chù (Frigate mackerel – Auxis thazard [Lacepede, 1803]): Kích thước trung bình: dài 23- 59cm, nặng 500-1400g. Phân bố rộng khắp biển Việt Nam, tập trung ở biển miền Trung, đông và tây Nam Bộ, quanh các đảo, nơi giàu dinh dưỡng. Là loài cá ngừ cỡ nhỏ sống gần bờ, đi theo đàn, thường lẫn với cá ngừ ồ và cá ngừ chấm, có phản ứng ánh sáng và tập trung quanh chà. Ngư cụ khai thác chủ yếu là lưới vây, mành,…

– Cá ngừ ồ (Bullet tuna – Auxis rochei [Risso,1810]): Kích thước trung bình: dài 25-59 cm, nặng 220-300g. Phân bố ở biền miền Trung. Ngư cụ khai thác chủ yếu là lưới vây, lưới vó, lưới rê, đăng.

 

Trong 08 loài kể trên, có 4 loài chiếm tỷ lệ sản lượng cao là cá ngừ chấm, cá ngừ chù, cá ngừ vằn và cá ngừ bò. Hai loài có giá trị kinh tế cao nhất là ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to.

Ngoài các loài cá ngừ còn có 6 loài cá nổi lớn (thường được phân trong nhóm gần cá ngừ) có giá trị kinh tế cao, là đối tượng khai thác, chế biến quan trọng ở Việt Nam, gồm:

 

– Cá mũi kiếm (Broadbill swordfish – Xiphias gladius [Linnaeus, 1758]): Kích thước khai thác trung bình 0,8-1,5m. Phân bố chủ yếu ở vùng vùng biển miền Trung và đông Nam Bộ. Ngư cụ khai thác chính là câu vàng, lưới rê.

– Cá cờ Ấn Độ (Cá cờ gòn) (Black marlin – Makaira indica [Cuvier, 1832]): Kích thước khai thác trung bình 1,5-2m. Tập trung ở vùng biển miền Trung và đông Nam Bộ. Ngư cụ khai thác chủ yếu là lưới rê, câu.

– Cá thu chấm (Indo-Pacific Spanish mackerel – Scomberomorus guttatus [Bloch & Schneider, 1801]): Kích thước trung bình 45- 55 cm. Phân bố nhiều ở vịnh Bắc Bộ, vùng biển Trung Bộ và đông & tây Nam Bộ. Ngư cụ khai thác chính là lưới rê, lưới kéo đáy, câu, đăng

– Cá thu ngàng (Wahoo, Acanthocybium solandri [Cuvier & Valenciennes, 1831]: Kích thước trung bình 0,8-1 m. Có ở vùng biển miền Trung và đông Nam Bộ. Ngư cụ khai thác chính là lưới rê, câu.

– Cá thu vạch (Narrow barred Spainish mackerel, Scomberomorus commerson [Lacepede, 1802]): Kích thước trung bình 60-80 cm. Vùng khai thác tập trung ở vịnh Bắc Bộ, miền Trung, đông và tây nam Bộ. Ngư cụ khai thác chính là lưới rê, lưới kéo đáy, câu, đăng.

– Cá dũa (Cá nục heo) (Mahimahi

– Coryphaena hippurus [Linnaeus, 1758]): Kích thước trung bình 28-80 cm. Phân bố tập trung ở vùng biển miền Trung và Đông Nam Bộ. Ngư cụ khai thác chủ yếu câu vàng, lưới rê.

 

Một số đặc điểm sinh học

Thức ăn

Thức ăn chủ yếu của cá ngừ là các loài cá trích (Clupeidae), cá trỏng (Achoviella), cá chuồn (Exocoetidae)…

Tất cả các loài cá ngừ kể trên đều ăn cá thuộc giống cá nục (Decapterus), mực ống (Loligo spp.), cá trích (Sardinella spp.), cá cơm (Stolephorus spp.) và cả động vật phù du như Amphipoda, Copepoda.

Trong thành phần thức ăn còn có ấu trùng của Cephalopoda, Crustacean và Squilla.

Sinh sản

Cũng giống như các loài cá biển Việt Nam, cá ngừ có thời kỳ sinh sản kéo dài từ tháng 3 đến tháng 9 hằng năm, nhưng rộ nhất vào các tháng 5-7. Các thời kỳ đẻ rộ cũng lệ thuộc vào điều kiện môi trường từng vùng biển cụ thể nên có xê dịch 1-2 tháng. Bãi đẻ có thể gần bờ hoặc xa bờ tuỳ theo từng loài.

• Cá ngừ chù: Mùa đẻ ở vịnh Bắc Bộ từ tháng 3-8, rộ nhất vào tháng 6-7; ở vịnh Thái Lan từ tháng 2-7; vùng biển miền Trung từ tháng 4-8. Nhiệt độ thích hợp nơi đẻ trứng từ 21-300C.

• Cá ngừ ồ: Mùa đẻ vào tháng 5-8.

• Cá ngừ chấm: Mùa đẻ ở vịnh Bắc Bộ từ tháng 4 đến tháng 8; ở vịnh Thái Lan từ tháng 3 đến tháng 9.

• Cá ngừ vây vàng: Mùa đẻ ở vùng biển Philippin từ tháng 5 đến tháng 10; Vùng biển Nhật Bản từ tháng 4 đến tháng 6; vùng Nam Thái Bình Dương từ tháng 3 đến tháng 10.

Kết quả khảo sát của đề tài “Nghiên cứu ngư trường và công nghệ khai thác cá ngừ đại dương giống phục vụ nuôi thương phẩm” cho thấy hai loài quan trọng đối với nghề cá Việt Nam là cá ngừ vây vàng và mắt to có bãi đẻ nằm trong vùng biển xa bờ miền Trung và đông Nam Bộ.

Di cư

Căn cứ đặc điểm di cư, người ta chia các loài cá ngừ ở biển Việt Nam thành 2 nhóm: nhóm di cư địa phương và nhóm di cư đại dương (cá ngừ đại dương).

Nhóm cá ngừ đại dương gồm 3 loài cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to và cá ngừ vằn. Nhóm này sống ở các vùng nước sâu, xa bờ, phạm vi di cư rộng giữa các đại dương. Ngoài cá ngừ vằn, các loài khác trong nhóm này đều có kích thước lớn (chiều dài từ 700 – 2000 mm, khối lượng từ 1,6 – 64 kg), có giá trị kinh tế cao và có nhu

cầu lớn trên thị trường thế giới.

Theo kết quả phân tích cá ngừ khai thác bằng lưới rê có thể cho rằng, cá ngừ từ ngoài khơi biển Đông bắt đầu di cư vào vùng biển miền Trung từ tháng 1-2. Chúng lưu lại trong vùng biển miền Trung một thời gian, sau đó chia ra 1 phần di cư lên phía Bắc vào vịnh Bắc Bộ từ tháng 3 đến 4 và ở đó cho đến tháng 8-9; 1 phần khác di cư xuống phía đông Nam Bộ và vịnh Thái Lan; còn phần lớn đàn cá vẫn ở lại vùng biển miền Trung.

Nhóm cá ngừ nhỏ, di cư địa phương gồm cá ngừ ồ, cá ngừ chù, cá ngừ chấm, cá ngừ bò, cá ngừ sọc dưa). Đây là các loài có kích thước nhỏ (từ 20 – 70 cm, trọng lượng từ 0,5 – 4 kg), có giá trị kinh tế thấp, sản phẩm chủ yếu tiêu thụ nội địa và làm nguyên liệu đóng hộp.

(Còn nữa)

Thái Thanh Dương

http://thuyhaisan.net

Bình luận tại đây