Phóng sự thủy sản

Ra khơi gặp khó (Bài:1)

Bài 1: Mở rộng ngư trường

Số lượng tàu thuyền tăng nhưng sản lượng khai thác hải sản mỗi năm không tăng, trong khi đó chi phí sản xuất tăng cao khiến ngư dân gặp nhiều khó khăn. Mở rộng ngư trường là cách “vượt qua sóng gió” của nhiều phương tiện thủy sản.

Bài 1: Mở rộng ngư trường

Số lượng tàu thuyền tăng nhưng sản lượng khai thác hải sản mỗi năm không tăng, trong khi đó chi phí sản xuất tăng cao khiến ngư dân gặp nhiều khó khăn. Mở rộng ngư trường là cách “vượt qua sóng gió” của nhiều phương tiện thủy sản.

Sản lượng khai thác thủy sản Quảng Nam chưa tương xứng với tiềm năng

Nằm bờ

Sản lượng khai thác thủy sản Quảng Nam trong 6 tháng đầu năm đạt gần 32 nghìn tấn (64% kế hoạch năm và tương đương cùng kỳ năm ngoái). Điều đáng nói là trong khi số lượng phương tiện khai thác thủy sản vẫn không ngừng tăng lên thì sản lượng khai thác mỗi năm vẫn hết sức “đồng đều”. Nguyên nhân là thời gian bám biển của ngư dân không nhiều và hiệu quả khai thác của mỗi chuyến biển không cao. Thời gian gần đây giá xăng dầu tăng cao đã khiến cho chi phí sản xuất mỗi chuyến biển của ngư dân tăng đáng kể, trong khi đó ngư trường mỗi ngày càng bị thu hẹp khiến nhiều phương tiện phải nằm bờ.

Nhiều năm trước đây, đội tàu nghề lưới cản An Bàng (Cẩm An, Hội An) đã đóng góp rất lớn với sản lượng khai thác mỗi năm không dưới 15.000 tấn. Thế nhưng, vài năm trở lại đây, thời gian bám biển và sản lượng khai thác của đội tàu này đã sụt giảm nghiêm trọng. Số lượng của đội tàu này (gần 50 chiếc) nay chỉ còn bằng 1/3. Ông Phùng Tấn Tráng, Đội trưởng đội lưới cản An Bàng than thở: “Đội tàu giờ đây không còn phát huy thế mạnh là hỗ trợ nhau trong thông tin về ngư trường, chia sẻ lao động trên biển, xử lý sự cố cũng như thông tin giá cả khi bán sản phẩm… Trước mỗi chuyến biển, chúng tôi phải vất vả vận động thì ngư dân mới tham gia. Cứ đà này, sự tan rã của đội lưới cản An Bàng rất có thể xảy ra”.

Sự suy giảm hiệu quả sản xuất của đội lưới cản An Bàng không phải là trường hợp duy nhất. Nhiều năm trước đây, tổ đoàn kết khai thác hải sản bằng nghề lưới rê cải tiến 3 lớp của xã Duy Vinh (Duy Xuyên) cũng hoạt động rất hiệu quả nhưng vì tác động của chi phí sản xuất và nhiều nguyên do khác, nay tổ này cũng đang hoạt động cầm chừng.

Quảng Nam thiếu các mô hình sản xuất trên biển hiệu quả. Ảnh: MINH HẢI

Hiện nay hoạt động hiệu quả nhất là nghề câu mực khơi và lưới vây ngày, lưới vây ánh sáng. Trong số gần 32 nghìn tấn hải sản khai thác được trong 6 tháng đầu năm thì nghề câu mực khơi, lưới vây ánh sáng và lưới vây ngày đã chiếm 20 nghìn tấn. Hiệu quả sản xuất cao nên câu mực khơi là nghề thu hút ngư dân. Thế nhưng, để phát triển đội tàu câu mực khơi hiện nay là điều rất khó khăn. Để đóng mới được một tàu câu mực khơi, ngư dân phải đầu tư không dưới 2 tỷ đồng. “Câu mực khơi và lưới vây là những nghề đem lại hiệu quả sản xuất cao. Nếu nhận được nguồn vốn vay ưu đãi và khắc phục được một số khó khăn, nhất là khó khăn về ngư trường thì sản lượng khai thác sẽ tăng lên” – ông Nguyễn Đình Sơn, Phó Trưởng phòng NN&PTNT huyện Núi Thành cho biết.

Ngư trường… kinh nghiệm

Có tiềm năng lớn nhưng ngành khai thác thủy sản Quảng Nam vẫn chưa phát huy được lợi thế tương ứng. Mở rộng ngư trường khai thác, phát triển đội tàu đánh bắt xa bờ để nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo vệ nguồn lợi thủy sản là chiến lược đúng đắn của ngành thủy sản, tuy nhiên hiện chiến lược này đang gặp không ít trở lực.

Theo dõi các bản tin dự báo thời tiết và dự báo ngư trường nguồn lợi trên biển của Chi cục Khai thác & bảo vệ nguồn lợi thủy sản Quảng Nam trên sóng các đài truyền thanh huyện Núi Thành và TP.Hội An, chúng ta có thể nhận được nhiều thông tin. Đáng nhớ nhất trong số đó là để có kế hoạch sản xuất hiệu quả và an toàn, ngư dân cần tuân thủ nghiêm túc các quy định về an toàn cho người và phương tiện; thường xuyên liên lạc với bờ, với các cơ quan chức năng về phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn của tỉnh; tổ chức sản xuất trên biển theo tổ đội đoàn kết để hỗ trợ nhau trong khai thác, cung ứng hậu cần, tiêu thụ sản phẩm, tăng thời gian bám biển, nâng cao hiệu quả đánh bắt và giúp nhau trong cứu hộ, cứu nạn khi có sự cố, tai nạn… Tuy nhiên, trao đổi với chúng tôi, hầu hết các ngư dân trên địa bàn tỉnh đều khẳng định họ ra khơi mà không hề hay biết các thông tin trên. Điều này cho thấy “đường đi” của bản tin dự báo ngư trường và thời tiết chưa được thông suốt từ hai phía. “Chúng tôi có biết là thông tin dự báo về ngư trường sẽ được phát trên sóng phát thanh huyện nhưng chương trình đó được truyền tải vào thời gian nào thì chúng tôi… chịu thua. Bấy lâu nay, thông qua hệ thống định vị trên biển và dựa vào kinh nghiệm đi biển lâu năm, chúng tôi sẽ xác định được ngư trường khai thác của mình” – lão ngư Nguyễn Văn Trường (Tam Hải, Núi Thành) cho biết. Ở một góc nhìn khác, do tập quán sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm nên việc tiếp cận thông tin của ngư dân còn rất hạn chế. Điều đáng nói ở đây là việc tìm một cách thức “cộng hưởng” để có thể tiếp nhận được thông tin về ngư trường vẫn chưa được đặt ra thấu đáo.

“Với chiều dài bờ biển 125km, ngư trường khai thác rộng trên 40.000 km2 cộng với vùng biển Trường Sa, Hoàng Sa, tiềm năng khai thác thủy sản của Quảng Nam là rất lớn. Tuy nhiên, nghề khai thác hải sản trên địa bàn tỉnh đang phải đối mặt với nhiều khó khăn. Do vốn đầu tư ban đầu của ngư dân còn hạn chế, tàu công suất thấp, công nghệ và phương pháp khai thác lạc hậu nên sản lượng khai thác chưa tương xứng với tiềm năng”.

(Ông Nguyễn Văn Giỏi, Chi cục trưởng Chi cục Khai thác & bảo vệ nguồn lợi thủy sản Quảng Nam).

Hiệu quả sản xuất trên biển phụ thuộc rất nhiều vào thông tin và cách tiếp cận về ngư trường. Trong khi thông tin về ngư trường vẫn chưa có “đường đi” gần nhất để đến với ngư dân thì chính “nội lực” của bản thân thông tin đó vẫn là điều đáng bàn. Theo ông Trần Văn Hưng, Trưởng phòng NN&PTNT huyện Núi Thành, dự báo chính xác ngư trường khai thác là điều rất cấp thiết cho ngư dân. Để tăng cường hiệu quả khai thác thủy sản, ngoài việc tổng hợp các biểu mẫu, thông số ngư trường, đối tượng cá khai thác để quy luật hóa hoạt động của từng đàn cá theo môi trường tự nhiên và chuỗi thức ăn thì việc tập huấn để nâng cao khả năng ứng biến của đội ngũ cộng tác viên ngành thủy sản ở cơ sở là điều cần thiết. Ông Hưng cho biết thêm: “Thực tế là thời gian qua ngành thủy sản đã có tổ chức điều tra về ngư trường nhưng số liệu không đầy đủ dẫn đến việc dự báo “khi trúng, khi trật”. Công tác điều tra, dự báo không chỉ chưa phục vụ cấp thiết nhu cầu đánh bắt của ngư dân mà ngay cả số liệu để quy hoạch cũng chưa chính xác lắm. Rõ ràng, trên cơ sở xúc tiến nhiều chương trình nâng “chất” theo hướng lấy số liệu “sống” thay cho số liệu “chết” về ngư trường, nguồn lợi, ngành thủy sản cần xây dựng được một bản đồ ngư trường chi tiết đáp ứng nhu cầu thông tin cũng như độ tin cậy cho ngư dân”.

NGUYỄN QUANG VIỆT

http://thuyhaisan.net

Bình luận tại đây