Nghiên cứu xây dựng giải ...

Nghiên cứu xây dựng giải pháp kỹ thuật nuôi tôm sú, cá ba sa và cá tra đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm

TS. Bùi Quang Tề - Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I

Trong thời gian 3 năm (2003 2005), Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I đã tiến hành đề tài Nghiên cứu xây dựng giải pháp kỹ thuật nuôi tôm sú, cá ba sa và cá tra đảm bảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Mục tiêu của đề tài nhằm tạo ra được sản phẩm thuỷ sản đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu; đánh giá được hiện trạng an toàn vệ sinh thực phẩm trong nuôi trồng thủy sản cũng như hiệu quả kinh tế các mô hình nuôi an toàn vệ sinh thực phẩm được xây dựng.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1. Các giải pháp kỹ thuật

1.1 Giải pháp về con giống : Tôm post trước khi thả nuôi đều phải kiểm tra bệnh MBV (tỷ lệ nhiễm <20%), không nhiễm bệnh đốm trắng (WSSV), không nhiễm Vibrio parahaemolyticus và sinh vật bám; toàn bộ tôm post đều được tắm (sốc) formalin 200ppm, thời gian 30 phút. Cá ba sa và cá tra lấy giống từ sinh sản nhân tạo, được ương đạt cỡ 5 -7cm hoặc cỡ 16-20cm rồi chuyển nuôi cá thương phẩm. Cá giống trước khi nuôi tắm nước muối 2 - 3%, thời gian 5 -10 phút; hoặc tắm 1-2ppm iodine, thời gian 10-15 phút. Nuôi tôm sú chỉ có một vụ chính, thả tôm giống từ trung tuần tháng 4 (sau tiết thanh minh) và thu hoạch tôm không chậm quá tháng 10 (lập đông). Ngoài thời gian này, nuôi tôm sẽ gặp nhiều rủi ro. Với điều kiện khí hậu miền Bắc, nuôi cá tra trong ao nuôi thu hoạch trước lập đông là có hiệu quả nhất.

1.2. Giải pháp về thức ăn : Lựa chọn thức ăn nuôi cá tôm theo 28 TCN 102: 2004 và 28 TCN 188: 2004 đảm bảo không nhiễm các chất cấm sử dụng như kháng sinh và độc tố nấm flatoxin, đây là mối nguy chủ yếu đối với việc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho cá tôm thương phẩm.

Giải pháp về quản lý môi trường nuôi chủ yếu lựa chọn khoáng chất (các loại vôi), chế phẩm sinh học. Các chế phẩm vi sinh (Aro-zyme, Aquapond-100, Pond-Clear, Soil-Pro, MIC power, EMC, NAVET- Biozym, Pharbioclean, Probiotex-one, Pharselenbiozym) dùng trong công nghệ nuôi tôm sú và cá tra có tác dụng phân hủy mùn bã hữu cơ, làm sạch môi trường.

1.3. Giải pháp về quản lý sức khỏe tôm cá: Ðề tài đã chọn các hoạt chất chiết tách được từ tỏi, sài đất (VTS1-T, VTS1-C) để sử dụng phòng bệnh xuất huyết, hoại tử cơ quan nội tạng (bệnh đốm trắng) do vi khuẩn cho cá tra và bệnh ăn mòn vỏ kitin do Vibrio spp cho tôm nuôi đạt kết quả tốt. Ngoài ra, còn phòng được bệnh nhiễm khuẩn cho tôm cá. Vacxin vô hoạt của các chủng vi khuẩn (A. hydrophila, Edwardsiella sp, Hafnia alvei) và vacxin vô hoạt của 3 chủng vi khuẩn (A. hydrophila, Edwardsiella sp, Hafnia alvei) tiêm với liều 0,2ml có hiệu quả: vừa đảm bảo được tính an toàn 100%, hiệu giá huyết thanh bằng 256 và tỷ lệ bảo hộ 90 100%.

Chi phí hoạt động ở các mô hình nuôi cá rất cao (100 triệu đồng/100m3 đến 2.281 triệu đồng/ha). Trong đó, chi phí thức ăn là cao nhất: 63,30 - 71,67% đối với nuôi cá lồng/bè; 79,56% đối với nuôi cá tra trong ao. Chi phí giống cho các mô hình tỷ lệ khoảng 10%. Chi phí cho hóa chất là 1,44 - 1,94%; chi phí chế phẩm vi sinh làm sạch môi trường nuôi cá ao là 1,32 - 1,67%. Chi phí hoạt động ở các mô hình nuôi tôm bán thâm canh (BTC) 105 triệu đồng/ha và nuôi thâm canh (TC) 200 triệu đồng/ha. Chi phí thức ăn nuôi TC là 62,99-64,04% và BTC là 56,95%; chi phí giống khoảng 10%; chi phi hóa chất 4,93 - 9,84%; chi phí chế phẩm làm sạch môi trường 1,91-3,94%. Hiệu quả nuôi tôm cá đảm bảo ATVSTP: Tỷ lệ thu hồi vốn của nuôi tôm sú TC và BTC lần lượt là 46,62% và 28,06% (của đề tài thực nghiệm), gấp từ 4 - 4,5 lần mô hình khảo sát (8,24%). Ðối với nuôi cá tra và cá ba sa, tỷ lệ thu hồi vốn của nuôi cá bè cao nhất là 31,11% (của mô hình đề tài thử nghiệm), gấp 3 lần mô hình khảo sát (10,81%); nuôi cá ao tỷ lệ thu hồi vốn thấp, của đề tài thử nghiệm (7,01 - 9,13%) và các mô hình khảo sát (12,23%); nuôi cá tra trong lồng trên hồ Thác Bà không có hiệu quả, tỷ lệ thu hồi vốn âm (-0,55%). Các yếu tố rủi ro trong việc đảm bảo ATVSTP nằm ở khâu quản lý sức khỏe tôm cá trong chu kỳ nuôi bởi hiện nay các mô hình nuôi của ngư dân sử dụng 60,00-77,50% kháng sinh để phòng trị bệnh. Do sự biến động về giá sản phẩm tiêu thụ ngoài thị trường, nhờ lợi nhuận mang lại từ các hộ nuôi cá tra và cá ba sa thấp hoặc lỗ.

Ðề tài đã xây dựng được 4 quy trình công nghệ nuôi tôm sú (Penaeus monodon Fabricus 1798), cá ba sa (Pangasius bocourti Sauvage, 1880) và cá tra (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878) đảm bảo ATVSTP về các chỉ tiêu dư lượng kháng sinh (Chloramphenicol, Furazolidon, Furaltadon Nitrofurantion, Nitrofurazon, Oxytetracylin), độc tố nấm (aflatoxin), thuốc trừ sâu (Aldrin; Dieldrin; Endrin; DDT; Heptachlor; Chlordane; Benzen Hexachloride; Lindane; Polychlobiphenyl-PCB), kim loại nặng (chì, thủy ngân, Cadium), vi sinh vật (fecal coliform; E. coli; Salmonella; Staphylococcus; Vibrio) và ký sinh trùng (metacercaria Clonorchis; metacercaria Opisthorchis; ấu trùng Gnathostoma).

2. Sản phẩm khoa học công nghệ

2.1. Ðề tài đã tạo ra được 4 quy trình công nghệ

2.1.1. Quy trình nuôi tôm sú bán thâm canh đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, năng suất 1,5-2,5tấn/ha/vụ.

2.1.2. Quy trình nuôi tôm sú thâm canh đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, năng suất 3,5-4,5tấn/ha/vụ.

2.1.3. Quy trình nuôi cá ba sa và cá tra trong ao đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, năng suất 35-40tấn/ha/vụ (ở miền Bắc) và 150-200tấn/ha/vụ (ở miền Nam).

2.1.4. Quy trình nuôi cá tra trong lồng/bè đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, nâng năng suất 80-100kg/m3/vụ.

2.2. Các chỉ tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm

2.2.1. Tôm sú đạt 24 chỉ tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm: dư lượng thuốc kháng sinh - Chloramphenicol, Furazolidon, Furaltadon Nitrofurantion, Nitrofurazon, Oxytetracylin; độc tố nấm - aflatoxin; thuốc trừ sâu- Aldrin; Dieldrin, Endrin, DDT, Heptachlor, Chlordane, Benzen Hexachloride, Lindane, Polychlobiphenyl-PCB; kim loại nặng - chì, thủy ngân, Cadium và vi sinh vật- fecal coliform, E.coli, Vibrio parahaemolyticus, Staphylococcus aureus.

2.2.2. Cá ba sa và cá tra đạt 26 chỉ tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm: dư lượng thuốc kháng sinh - Chloramphenicol, Furazolidon, Furaltadon Nitrofurantion, Nitrofurazon, Oxytetracylin; độc tố nấm - aflatoxin; thuốc trừ sâu Aldrin, Dieldrin, Endrin, DDT, Heptachlor, Chlordane, Benzen Hexachloride, Lindane, Polychlobiphenyl-PCB; kim loại nặng - chì, thủy ngân, Cadium và vi sinh vật - fecal coliform, E.coli, Vibrio parahaemolyticus, Staphylococcus aureus; ký sinh trùng - ấu trùng Clonorchis, ấu trùng Opisthorchis, ấu trùng Gnathostoma.

2.3. Sản phẩm khoa học cụ thể

2.3.1. Chiết xuất thảo được (tỏi, sài đất, nhọ nồi) và phối chế được hai loại thuốc cho tôm cá : Thuốc phòng trị bệnh nhiễm khuẩn cho cá - VTS1-C; thuốc phòng trị bệnh nhiễm khuẩn cho tôm - VTS1-T

2.3.2. Ðiều chế hai loại vacxin vô hoạt: Vacxin (chủng A. hydrophila) - CT1 và Vacxin (hỗn hợp 3 chủng Aeromonas hydrophila, Edwardsiella, Hafnia alvei) VTS1 với tỷ lệ an toàn trên 90% và tỷ lệ bảo hộ trên 80% phòng bệnh xuất huyết, hoại tử nội tạng (đốm trắng) cho cá tra.

3. Kết quả ứng dụng vào sản xuất, sản phẩm hàng hóa tạo ra

3.1. Ðề tài đã thí nghiệm và ứng dụng vào sản xuất, sản xuất được 213 tấn tôm sú đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; 776 tấn cá ba sa và cá tra đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

3.2. Chiết xuất thảo dược (tỏi, sài đất, nhọ nồi) và phối chế 235kg sản phẩm thuốc VTS1-C và VTS1-T phòng trị bệnh nhiễm khuẩn cho tôm cá.

3.3. Ðiều chế được 10 lít vacxin vô hoạt (1,5.109 tế bào/ml), phòng bệnh xuất huyết, hoại tử nội tạng (đốm trắng) cho Cá tra.

4. Hiệu quả kinh tế - xã hội

Trong ba năm (2003-2005) nghiên cứu thử nghiệm, Ðề tài đã xây dựng được 4 quy trình công nghệ nuôi tôm, cá đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, có ý nghĩa thúc đẩy phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững. Nếu các quy trình này được ứng dụng rộng rãi cho các địa phương sẽ tạo ra sản phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm cho nghề nuôi trồng thủy sản.

Ðề tài đã ứng dụng sản xuất 213 tấn tôm thương phẩm, giá thành trung bình 50.000đ/kg, trị giá 10.650 triệu đồng; 776 tấn cá Ba sa và cá Tra, giá thành trung bình 10.000đ/kg, trị giá 7.760 triệu đồng; thuốc phòng trị bệnh tôm cá 235kg, giá thành 400.000đ/kg, trị giá 94 triệu đồng. Tổng giá trị đề tài đã tạo ra trong ba năm là 18.504 triệu đồng.

http:// thuyhaisan.net :Sưu tầm

Bình luận (0)add
Viết lời bình
Cỡ nhỏ | Cỡ lớn

busy

Newer news items:
Older news items:

Nghiên cứu xây dựng giải pháp kỹ thuật nuôi tôm sú, cá ba sa và cá tra đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm Nghiên cứu xây dựng giải pháp kỹ thuật nuôi tôm sú, cá ba sa và cá tra đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm TS. Bùi Quang Tề - Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I Trong thời gian 3 năm (2003 2005), Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I đã tiến hành đề tài Nghiên cứu xây dựng giải pháp kỹ thuật nuôi tôm sú, cá ba sa và cá tra đảm bảm an toàn vệ sinh thực phẩm
1161.43589744 1222.56410256 2384

sự kiện miễn phí

Ảnh đẹp thủy hải sản

  • Cá trắm đen biếu tết giáp ngọ 2014 sang mà bổ
  • Bước đầu tìm ra vi khuẩn gây hoại tử gan tụy trên cá thể tôm
  • Ngất ngây cùng hương vị thơm ngon của ốc hương
  • Khai thác thủy sản vào 6 tháng đầu năm
  • Thành lập nghiệp đoàn khai thác hải sản thứ 4 tại Bình Thuận
  • Cá tra tại Việt Nam giá cao
  • Nam Định Sạt nghiệp vì tôm, ngao chết hàng loạt
  • Giúp ngư dân vượt khó
  • Cá bã trầu ngon... quên sầu

Tin doanh nghiệp thủy sản