Phương pháp nuôi trồng

Nghiên cứu kỹ thuật và hiệu quả kinh tế của các hình thức nuôi cá – lúa

Ðể đẩy mạnh khai thác tiềm năng thuỷ sản hiện có, góp phần thực hiện chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nhằm nâng cao đời sống kinh tế – xã hội ở nông thôn, nhóm tác giả Viện Nghiên cứu NTTS I tiến hành đề tài:

I. Mở đầu

Ðể đẩy mạnh khai thác tiềm năng thuỷ sản hiện có, góp phần thực hiện chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nhằm nâng cao đời sống kinh tế – xã hội ở nông thôn, nhóm tác giả Viện Nghiên cứu NTTS I tiến hành đề tài: Nghiên cứu kỹ thuật và hiệu quả kinh tế của hình thức nuôi cá ruộng nhằm mục đích đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất này, đồng thời xây dựng quy trình kỹ thuật ứng dụng cho sản xuất. Ðề tài được ứng dụng trong 2 năm 1997-1998 tại 3 điểm: Phú Thịnh (Yên Bình, Yên Bái); Ðại Bái (Gia Lương, Bắc Ninh); Yên Chính (ý Yên, Nam Ðịnh). Sau đây là nội dung tóm tắt của đề tài.

II. Kết quả và thảo luận

1.Tiềm năng và hiện trạng nuôi cá ruộng

3 huyện điều tra đều là những huyện tương đối đông dân, kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp, lao động dư thừa và tỷ lệ hộ đói nghèo là 18-25% (theo thống kê năm 1997). Cả 3 huyện đều có diện tích có khả năng nuôi cá ruộng nhưng cho đến nay diện tích nuôi cá-lúa chỉ chiếm 0,2-10,75%.

Tại khu vực điều tra, nuôi cá ruộng chủ yếu là nuôi luân canh (Yên Chính 1 vụ lúa + 1 vụ cá), xen canh (Ðại Bái, Phú Thịnh 2 vụ lúa + 1 vụ cá). Diện tích mương trong ruộng nuôi cá chiếm 10% tổng diện tích. Cá giống thả vào tháng 2-3, thu hoạch vào tháng 11-12. Mật độ nuôi 3-5 con/m2 (Yên Chính) và 2-5 con/m2 (Ðại Bái và Phú Thịnh). Cỡ cá thả tương đối nhỏ, 2-4 cm, thường là cá giống trong năm, không thả cá giống lưu, nên năng suất thấp, cỡ cá thu hoạch chỉ đạt 150-300g/con, tỷ lệ sống thấp. ở Yên Chính, mật độ ghép cá trắm cỏ quá dày (1 vạn con/ha), cỡ nhỏ (3-4cm) không bổ sung thức ăn nên cá không lớn và mắc bệnh chết hàng loạt dẫn đến bị thua lỗ. Tình hình cá chết do phun thuốc trừ sâu cũng xảy ra ở Ðại Bái vì không áp dụng đúng kỹ thuật. Nhìn chung năng suất cá chỉ đạt 150-250kg/ha (2 vụ lúa + 1 vụ cá), 200-350kg/ha (1 vụ lúa + 1 vụ cá).

Về kỹ thuật nuôi, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm từ thực tiễn sản xuất hoặc học hỏi từ bạn bè nên có những hạn chế nhất định. Những năm gần đây, nông dân được tiếp thu kỹ thuật từ các phương tiện thông tin đại chúng, các chương trình khuyến ngư, nhất là sau khi có các chủ trương xoá đói giảm nghèo, chuyển đổi cơ cấu cây trồng của Nhà nước, phong trào nuôi cá ruộng đã có những bước phát triển đáng kể. Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất hiện nay là ruộng đất bị chia nhỏ, manh mún nên gây khó khăn hoặc thậm chí không thể quy hoạch, cải tạo đồng ruộng cho phù hợp với mô hình cá + lúa kết hợp.

Huyện

Diện tích (ha)

Diện tích có khả năng nuôi cá

Diện tích đã nuôi

(ha)

(%)

(ha)

(%)

Gia Lương

9.404

2.078

21,89

205

9,28

Ý Yên

16.200

4.200

25,92

450

10,75

Yên Bình

2.612

720

35,00

2

0,20

2.Các yếu tố môi trường

2.1.Yếu tố thuỷ lý, thuỷ hoá

Hầu hết các ruộng nuôi cá thường có mức nước nông, dao động trong khoảng 16-50cm, tăng dần vào tháng 7-8 và giảm dần từ tháng 9. Do mức nước nông nên các yếu tố môi trường nước thường biến động lớn. Hàm lượng ôxy hoà tan thấp, dao động trong khoảng 1,4-2,4mg/l, không phù hợp với những loài cá có nhu cầu ôxy cao. Hàm lượng CO2, pH nằm trong phạm vi thích hợp. Hàm lượng NH4 dao động trong khoảng 0,02-0,40mg/l, PO4 từ 0,03-0,40mg/l, có xu hướng tăng dần vào cuối vụ. Nhìn chung hàm lượng muối dinh dưỡng nghèo, hạn chế sự phát triển của các loài thuỷ sinh vật làm thức ăn cho cá.

2.2. Cơ sở thức ăn tự nhiên của cá

+ Thực vật phù du

Sinh khối trung bình thực vật phù du (Euglena, E.spirogyta, E.accus…) trong ruộng lúa không nuôi cá ở 3 điểm nghiên cứu đạt từ 810-850.000 cá thể/lít. Nhìn chung, thực vật phù du trong ruộng lúa tương đối nghèo nàn cả về định tính lẫn định lượng, có thể do mức nước nông, thiếu ánh sáng do bị lá lúa che phủ ảnh hưởng đến sự quang hợp và phát triển của tảo. Vì vậy, chỉ nên nuôi ghép các loài cá ăn thực vật phù du với tỷ lệ thấp.

+ Ðộng vật phù du (Rotifera, Copepoda, Cladocera, Nauplius)

Mặc dù các điểm nghiên cứu ở các vùng địa lý rất khác nhau nhưng tỷ lệ % các ngành động vật phù du không có sự sai khác nhau nhiều

Sinh khối động vật phù du trong ruộng lúa cũng rất thấp, ở ruộng nuôi cá thường thấp hơn ruộng không nuôi cá và dao động trong khoảng 43.000-84.000 cá thể/m3.

+ Ðộng vật đáy

Tỷ lệ thành phần các nhóm sinh vật đáy và sinh vật lượng sinh vật đáy trong ruộng nuôi cá cao hơn ruộng không nuôi cá, có thể là do ruộng nuôi cá được chăm sóc kỹ hơn. Mặt khác, do phân của loài cá ăn thực vật thải ra là nguồn dinh dưỡng để sinh vật đáy phát triển tốt hơn.

+ Thực vật ưa ẩm và thực vật thuỷ sinh bậc cao

Một số loài thường gặp trong ruộng lúa như rau bợ (Masilea quadryfolia), bèo tấm (Spriodela polyrhi), cỏ lồng vực (Echinochlea valinalis), cỏ mỡ (Ischaemu maristatum), rong đuôi chó (Ceratophyllum derersum), cỏ năn (Heleccharisequisetima), cỏ lác mỡ (Cyperus diffornus) v.v là thức ăn trực tiếp cho các loài cá như : trắm cỏ, trôi ấn, mè vinh, rô phi. Củ và hạt thực vật thuỷ sinh là thức ăn bổ sung cho cá chép, diếc

Ðối với ruộng 1 vụ lúa + 1 vụ cá, sau khi thu hoạch lúa, thực vật thuỷ sinh bậc cao phát triển mạnh, đặc biệt là lúa chét là nguồn thức ăn cho các loài cá thực vật, đồng thời tạo ra lượng mùn bã hữu cơ dồi dào cho cá trôi ấn, rô phi

Tỷ lệ % thành phần các nhóm sinh vật đáy trong ruộng lúa

Loại ruộng

Ruộng có nuôi cá

Ruộng không nuôi cá

Thành phần

Ðại Bái

Yên Chính

Phú Thịnh

Ðại Bái

Yên Chính

Phú Thịnh

Nymp.

20

25

16

13

14

16

Olygochaeta

43

27

37

37

51

24

Gastropada

37

48

47

50

45

60

Sinh vật lượng trung bình sinh vật đáy trong ruộng lúa

Loại ruộng

Ðịa điểm

Ruộng nuôi cá

Ruộng không nuôi cá

con/m2

gam/m2

con/m2

gam/m2

Yên Chính

152

4,50

105

0,130

Phú Thịnh

120

4,00

110

0,472

Ðại Bái

141

4,12

148

0,490

Sinh trưởng của cá trong ruộng 1 vụ lúa + 1 vụ cá ở Yên Chính

Loài cá

Tỷ lệ ghép (%)

Tỷ lệ sống (%)

Cỡ cá thả (g/con)

Cỡ cá thu hoạch (g/con)

Tăng trọng (g/con/tháng)

1997

1998

1997

1998

1997

1998

1997

1998

Chép

50

61,2

66,9

6,8

6,0

392

380

48,1

46,7

Trắm cỏ

20

54,4

87,7

13,0

12,0

1550

1450

192,1

179,7

Trôi ấn

10

79,6

77,1

10,0

9,5

430

390

52,5

47,5

Mè trắng

10

75,4

87,0

16,0

14,0

530

525

64,2

68,3

Rô phi

5

57,1

66,8

5,5

4,4

205

214

24,9

26,2

Mè vinh

5

78,3

51,9

4,3

4,1

290

220

35,7

26,9

Sinh trưởng của cá trong ruộng 2 vụ lúa + 1 vụ cá ở Ðại Bái

Loài cá

Tỷ lệ ghép (%)

Tỷ lệ sống (%)

Cỡ cá thả (g/con)

Cỡ cá thu hoạch (g/con)

Tăng trọng (g/con/tháng)

1997

1998

1997

1998

1997

1998

1997

1998

Chép

50

44

63

7,5

6,8

340

300

47,5

41,9

Trắm cỏ

0

0

0

0

0

0

0

0

0

Trôi ấn

25

49,5

92

14,0

13,8

400

310

55,1

42,3

Mè trắng

10

56

59

16,0

15,5

600

610

83,4

84,9

Rô phi

10

60

34

4,5

6,7

260

252

36,5

35,4

Mè vinh

5

46

75

4,1

4,5

220

283

30,8

39,8

3. Nghiên cứu mô hình cấy lúa kết hợp nuôi cá

3.1 Sinh trưởng, tỷ lệ sống, năng suất và sản lượng cá và lúa

Kết quả theo dõi về sinh trưởng của cá trong ruộng lúa năm 1997 và 1998 ở Yên Chính, Ðại Bái được trình bày trong bảng trên.

Nhìn chung, cá sinh trưởng trong ruộng lúa tương đối nhanh. Kết quả trong 2 năm tương đối ổn định, sinh trưởng của cá trong ruộng cấy lúa 1 vụ tốt hơn cá trong ruộng cấy lúa 2 vụ.

Năng suất và sản lượng cá thịt của ruộng 2 vụ lúa + 1 vụ cá ở Phú Thịnh và Ðại Bái gần như nhau và chỉ bằng một nửa năng suất và sản lượng của ruộng 1 vụ lúa + 1 vụ cá ở Yên Chính. Ngoài yếu tố cá trong ruộng cấy lúa 1 vụ sinh trưởng nhanh hơn, cá trắm cỏ có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và sản lượng của mô hình này.

Trong những ruộng nuôi cá kết hợp với cấy lúa, sử dụng các cây lúa cứng cây, thân cao, độ che phủ của lá thấp và là các giống lúa có khả năng kháng bệnh cao (vì không sử dụng thuốc trừ sâu) như Q4, DT10. Kỹ thuật canh tác lúa trong ruộng có nuôi cá cũng giống như trong ruộng không nuôi cá.

Về năng suất lúa, trong những ruộng 2 lúa + 1 cá cao hơn hẳn trong những ruộng không nuôi cá từ 0,8-1,2 tấn/ha (tăng từ 8,7%-12,2%), trong ruộng 1 lúa + 1 cá cao hơn ruộng cấy lúa 1 vụ 0,8 tấn/ha (tăng 17,3%). Như vậy, cá có ý nghĩa quan trọng trong canh tác như sục bùn, diệt trừ cỏ hại, côn trùng hại lúa và bổ sung nguồn phân bón cho ruộng.

3.2 Tình hình sâu bệnh hại lúa trong ruộng nuôi cá và không nuôi cá

Muốn kết hợp tốt giữa lúa và cá trong một mô hình sản xuất, cần tìm hiểu và giải quyết vấn đề sâu bệnh hại lúa và biện pháp phòng trừ thích hợp, vì khi nuôi cá trong ruộng lúa, không thể sử dụng các loại thuốc trừ sâu có hại cho thuỷ sinh vật và môi trường sống của chúng. Kết quả điều tra tình hình sâu bệnh và thiên địch trong vụ mùa (tháng 8,9,10/1997) tại Ðại Bái như sau:

Bệnh khô vằn (Rhfoctonicosolant) : Ruộng không nuôi cá : 3,47 tb/m2, ruộng nuôi cá : 3,33 tb/m2

Bệnh đạo ôn (Pusiculari oricac) : Ruộng không nuôi cá : 2,25 tb/m2, ruộng nuôi cá : 2,18 tb/m2

Rầy nâu (Nilapanvata lygut) : Ruộng không nuôi cá : 8,47 tb/m2, ruộng nuôi cá : 5,77 tb/m2

Sâu đục thân (Scinopphaga) : Ruộng không nuôi cá : 3,0 tb/m2, ruộng nuôi cá : 0,33 tb/m2

Nhện (Lycosa pren) : Ruộng không nuôi cá : 3,4 tb/m2, ruộng nuôi cá : 17,2 tb/m2

Bọ xít nước (Cyrtorbinus lividipennis) : Ruộng không nuôi cá : 2,7 tb/m2, ruộng nuôi cá: 2,5 tb/m2

Mặc dù trong ruộng nuôi cá không sử dụng thuốc trừ sâu nhưng mức độ sâu bệnh vẫn thấp hơn ruộng không nuôi cá có sử dụng thuốc trừ sâu. Qua đó thấy cá có tác dụng diệt trừ sâu bệnh. Nhện và bọ xít nước là các loài côn trùng tiêu diệt sâu bệnh trong lúa. Do không sử dụng thuốc trừ sâu, nên số lượng nhện trong ruộng nuôi cá nhiều hơn trong ruộng không nuôi cá, còn bọ xít nước ít hơn (có thể do bị cá ăn).

Năng suất và sản lượng cá thịt ở các mô hình lúa + cá

Chỉ tiêu

Phú Thịnh

Ðại Bái

Yên Chính

1997

1998

1997

1998

1997

1998

Năng suất (kg/ha)

586

511

507

624

1377

1173

Sản lượng (kg/ha)

615

556

532

640

1457

1312

4. Hiệu quả kinh tế

ở mô hình 2 lúa + 1 cá tại Phú Thịnh năm 1997, hạch toán trên một ha lãi 6.235.000 đồng, trong khi cấy 2 vụ lúa chỉ lãi 1.086.000 đồng. ở mô hình 1 vụ lúa + 1 vụ cá tại ý Yên năm 1997 hạch toán trên 1 ha lãi 7.713.000, trong khi cấy 1 vụ lúa chỉ lãi 2.700.000.

Như vậy, cấy lúa kết hợp với nuôi cá mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn so với cấy lúa đơn thuần. Mô hình 2 vụ lúa + 1 vụ cá có lãi hơn mô hình 2 vụ lúa 6.235.000đ (gấp 5 lần). Mô hình 1 lúa + 1 cá có lãi hơn mô hình 1 lúa 7.113.000đ (hơn 3 lần). Tr ên những số liệu thu được, cũng thấy mô hình 1 lúa + 1 cá có lãi hơn 2 lúa + 1 cá nhưng để có kết luận chắc chắn, cần thử nghiệm hai mô hình này trên một địa bàn.

Ngoài ra, còn các hiệu quả khác như tạo thêm công ăn việc làm cho nông dân, tăng thêm sản phẩm cho xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái vì không phải sử dụng thuốc trừ sâu.

III. Kết luận

1. Tiềm năng nuôi cá ruộng tại các huyện được nghiên cứu khá lớn, nhưng diện tích đưa vào nuôi cá chỉ chiếm 0,2-10,78%. Kỹ thuật nuôi còn hạn chế, mật độ thả cá dày, cơ cấu không hợp lý, cỡ cá quá nhỏ dẫn đến năng suất thấp. Ruộng đất bị chia nhỏ, không tập trung nên khó quy hoạch và bảo vệ khi nuôi cá.

2. Nhìn chung các yếu tố môi trường không ảnh hưởng lớn đến đời sống của cá. Tuy nhiên, hàm lượng ôxy hoà tan tương đối thấp, ít phù hợp cho loài cá có nhu cầu ôxy cao. Hàm lượng muối dinh dưỡng trong nước tương đối nghèo, hạn chế sự phát triển các loài sinh vật phù du làm thức ăn cho cá.

Thực vật và động vật phù du trong ruộng lúa nghèo nàn cả về định tính lẫn định lượng, do đó nên ghép các loài cá ăn sinh vật phù du với tỷ lệ thấp. Sinh vật đáy, thực vật thuỷ sinh bậc cao tương đối giàu, phù hợp cho các loài cá ăn đáy và cá ăn thực vật phát triển.

3. Năng suất lúa trong ruộng 2 lúa + 1 cá đạt 8,8-10 tấn/ha/năm, cao hơn ruộng cấy lúa đơn thuần từ 0,8-1,2 tấn (tăng 8,7-12,2%), ruộng 1 lúa + 1 cá cao hơn ruộng cấy lúa 1 vụ 0,8 tấn/ha (tăng 17,3%).

Năng suất cá ở mô hình 2 lúa + 1 cá đạt 475-640kg/ha, mô hình 1 lúa + 1 cá đạt 1173-1377 kg/ha.

4. Hiệu quả kinh tế: ở mô hình 2 lúa + 1 cá, lãi gấp 5 lần so với chỉ cấy lúa. Mô hình 1 lúa + 1 cá lãi gấp hơn 3 lần so với cấy lúa. Ngoài ra, còn tạo thêm công ăn việc làm, tăng thêm sản phẩm cho xã hội, tăng thu nhập cho nông dân và góp phần làm sạch môi trường.

Bình luận tại đây