Phóng sự thủy sản

Biển trong tâm thức cộng đồng cư dân người Việt

Từ xa xưa, biển đảo đã là một địa bàn sống vô cùng quan trọng đối với cộng đồng cư dân người Việt. Trong buổi đầu khai sơn phá thạch, nhiều vùng ven biển và một số đảo gần bờ đã trở thành những điểm tụ cư của người Việt.

Từ xa xưa, biển đảo đã là một địa bàn sống vô cùng quan trọng đối với cộng đồng cư dân người Việt. Trong buổi đầu khai sơn phá thạch, nhiều vùng ven biển và một số đảo gần bờ đã trở thành những điểm tụ cư của người Việt.

Dấu tích cuộc sống của cư dân Việt Nam thời tiền sử còn in đậm trên nhiều vùng biển đảo của Tổ quốc suốt từ địa đầu Móng Cái đến Mũi Cà Mau. Hàng trăm các phát hiện khảo cổ học vùng ven biển và trên các đảo, như: Hạ Long (Quảng Ninh); Cái Bèo, Cát Bà (Hải Phòng); Đa Bút, Hoa Lộc (Thanh Hoá); Quỳnh Văn (Nghệ An); Bàu Tró (Quảng Bình); Bàu Trám, Bàu Dũ (vùng Quảng Nam – Đà Nẵng); Long Trạch, Xóm Ốc (Quảng Ngãi); Xóm Cồn, Hòn Tre (Khánh Hoà); Bàu Hoè (vùng Ninh Thuận – Bình Thuận)… đều liên quan đến quá trình khởi sinh và phát triển rực rỡ của các nền văn hoá – văn minh cổ đại của người Việt (nền văn hoá – văn minh Đông Sơn, vùng Bắc Bộ; văn hoá Sa Huỳnh, Trung Bộ và văn hoá Đồng Nai, Nam Bộ), chứng tỏ rằng, trên vùng biển đảo Tổ quốc, người Việt từ rất sớm đã đến tụ cư lập nghiệp.

biển vũng tàu

Biển luôn giữ một vai trò nhất định trong đời sống vật chất – tinh thần của cộng đồng cư dân người Việt (dù là người Việt ở đồng bằng, ven biển hay ở các vùng núi cao xa xôi, hẻo lánh). Trong tâm thức của người Việt, ý thức về biển được thể hiện khá rõ nét và sinh động. Biển được coi là một trong những yếu tố tự nhiên nổi trội góp phần định vị, định dạng bản sắc văn hoá dân tộc. Người ta vẫn thường nói tới văn hoá – văn minh truyền thống Việt Nam với tư cách là một nền văn hoá – văn minh nông nghiệp lúa nước, nền văn hoá – văn minh sông nước (chính xác hơn là văn hoá sông – biển). Trong văn hoá tín ngưỡng của người Việt, các lễ hội “Cầu ngư”, “Nghinh Ông”… mang đậm chất văn hoá biển và ít nhiều thể hiện ý thức coi trọng biển của cộng đồng cư dân Việt. Không phải ngẫu nhiên mà trong tín ngưỡng thờ “Tứ bất tử”, Thần Núi Tản (Sơn Tinh – vị thần trị thuỷ) lại được coi là một trong bốn vị thần không bao giờ chết trong thế giới tâm linh của người Việt.

Càng không phải ngẫu nhiên, khi mà người Việt thường vẫn gọi Tổ quốc của mình bằng những cụm từ rất thân thuộc: “Đất nước” hay “Non nước”, “Nước non”. Ở đây, trước hết phải thừa nhận rằng, thực tế cuộc sống của cộng đồng diễn ra trên một địa bàn đặc trưng sông nước, gắn với văn minh nông nghiệp lúa nước, có những yêu cầu riêng của nó, nên yếu tố “nước” đã ăn sâu vào tiềm thức cộng đồng. Tuy nhiên, soi vào chiều sâu tâm thức của người Việt cần phải nhận thấy thêm một điểm nữa rằng: Từ trong tiềm thức, vùng sông – biển (nhất là đối với biển) đã trở thành một địa bàn sống máu thịt của người Việt Nam, biển in đậm trong tâm thức của người Việt không chỉ với tư cách như là một yếu tố đáp ứng những nhu cầu sống thường ngày của cộng đồng (nhu cầu về nước, về nguồn lợi thuỷ sản) mà còn với tư cách là một phận hữu cơ cấu thành lãnh thổ quốc gia – dân tộc. “Tam sơn, tứ hải, nhất phần điền” – cha ông người Việt từ bao đời đã sớm nhận diện, bao quát và khẳng định tính toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia – dân tộc mình như vậy.

Các ghe, tàu Nghinh ông trên biển.

Có thể nói, Biển – cụ thể là vùng Biển Đông, phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc luôn hiện diện trong tâm thức của người Việt Nam. Với người Việt, biển vừa gần gũi, quen thuộc (vì đó là địa bàn mà người Việt thường xuyên tiến hành các hoạt động kinh tế hàng ngày như làm muối, đánh cá, khai thác các nguồn thuỷ sản khác…) nhưng cũng đầy thiêng liêng và đầy trắc ẩn (vì đó là nơi con người chưa có điều kiện khám phá hết). Trai gái người Việt ngay từ khi mới yêu nhau đã lấy câu “Thề non, hẹn biển” làm trọng: “Tưởng rằng hẹn biển thề non – Ai ngờ đá nát vàng song nhạt màu”. Đến khi thành vợ, thành chồng vẫn thường ví von, căn dặn: “Thuận vợ thuận chồng, tát Biển Đông cũng cạn”. Trong quan hệ thường nhật vẫn tự nhủ câu: “Tứ Hải giai huynh đệ” (Anh em bốn biển một nhà) để nhắc nhở nhau thắt chặt mối quan hệ kết giao hoà hữu.

Lật lại các trang sử thời dựng nước của người Việt thường gắn chặt với những truyền thuyết in đậm dấu ấn biển. Dòng giống Tiên – Rồng, gắn với hình ảnh mẹ Âu Cơ và cha Lạc Long Quân chia con lên rừng xuống biển; chàng Mai An Tiêm với trái dưa hấu ngoài hoang đảo (vùng biển Nga Sơn – Thanh Hoá ngày nay); truyền thuyết về trận chiến giữa Sơn Tinh và Thuỷ Tinh với chiến thắng của vị Thần Núi Tản; truyền thuyết về Thánh Mẫu Thiên Y ana (vùng duyên hải Nam Trung Bộ)… ẩn chứa khát vọng vươn ra biển, chinh phục biển của cả cộng đồng; câu chuyện về Thục An Dương Vương xây dựng Loa Thành và đánh mất nước, lại ít nhiều gợi lòng trắc ẩn của cả cộng đồng ở ý nghĩa sống còn của biển đối với vận mệnh quốc gia – dân tộc. Trong truyền thuyết về Thục An Dương Vương, thần Kim Quy – vị thần của biển đã hiện lên giữa biển Đông mách bảo kế sách xây thành mà trao báu vật cho Vua Thục chế tác Nỏ thần bảo vệ đất nước. Nhưng vì mất cảnh giác, An Dương Vương đã để bí mật Nỏ thần rơi vào tay giặc, đến nỗi cơ đồ Âu Lạc sụp đổ, cha con phải lên ngựa chạy trốn về phía biển Đông. Câu chuyện kết thúc với kết cục bi thảm: Nàng Mỵ Châu chết dưới lưỡi kiếm của vua cha trước sự chứng kiến của Rùa Thần, đã khiến cho bao thế hệ người Việt khôn nguôi day rứt. Đằng sau truyền thuyết in đậm dấu ấn lịch sử này, hàng loạt các câu hỏi được đặt ra khiến chúng ta phải suy ngẫm: Vì sao Au Lạc sụp đổ? Vì sao Mỵ Châu phải chết? Vì sao Thục Vương trên con đường chạy giặc lại giong ngựa về phía Biển Đông? Vì sao Thần Rùa lại rẽ sóng, mở lối thoát để đưa Thục An Dương Vương về với biển? (!)

Tư duy đương đại cho thấy, hàng loạt quốc gia có biển hiện nay đều nhất loạt hướng về biển, coi biển là chiến lược trên bước đường phát triển đi lên. Có lẽ, chẳng phải vô tình khi trong truyền thuyết này, thần Kim Quy (vị thần của biển) lại hiện diện ở phần khởi đầu và kết thúc câu chuyện. Phải chăng, những thông tin hàm chứa trong truyền thuyết chính là lời nhắc nhở của các bậc Tiền nhân đối với các thế hệ cháu con người Việt về hậu quả khôn lường nếu vô tình trước biển – vô tình trước sự tồn vong của đất nước.

Hiện thực cuộc sống – hiện thực lịch sử dân tộc thường được phản ánh một cách sinh động, rõ nét trong tiềm thức – tâm thức của cả cộng đồng. Trong tâm thức của người Việt, ý thức về vai trò to lớn của biển, đảo đối với cuộc sống cư dân và sự sinh tồn của quốc gia – dân tộc luôn mãnh liệt và thường trực. Từ sâu thẳm trong tiềm thức, cộng đồng cư dân người Việt luôn thể hiện khát vọng cháy bỏng muốn khám phá, chinh phục và làm chủ vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc – đó là một khát vọng chính đáng. Tuy nhiên, để biến khát vọng đó thành hiện thực là cả một quá trình đầy khó khăn, thách thức, đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu vươn lên mạnh mẽ của cả cộng đồng người Việt qua mỗi thế hệ.

Ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc đã được đặt ở vị trí xứng đáng. Tiềm năng to lớn của biển đã và đang được đánh thức, góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển đất nước, đưa đất nước vững bước tiến lên ngày ngày giàu mạnh, theo kịp xu thế phát triển của thời đại.

Ths Nguyễn Đức Phương

(Học viện Hải quân)

http://thuyhaisan.net : S.T

 

Bình luận tại đây